Những tiêu chuẩn và yếu tố ảnh hưởng tới Vacxin

Tiêu chuẩn của Vacxin

     Hai tiêu chuẩn cơ bản nhất của vacxin là an toàn và hiệu lực.

Tiêu chuẩn của Vacxin


An toàn

     Sau khi sản xuất vacxin phải được cơ quan kiểm định nhà nước kiểm tra chặt chẽ về mặt vô trùng, thuần khiết và không độc.

     Vô trùng: không được nhiễm các vi sinh vật khác.

     Thuần khiết: không được lẫn các thành phần kháng nguyên khác có thê gây ra các phản ứng phụ.

     Không độc: liều sử dụng phải thấp hơn rất nhiều so với liều gây độc.

Hiệu lực

     Vacxin có hiệu lực lớn là vacxin gây được miễn dịch ở mức độ cao và tồn tại lâu. Hiệu lực gây miễn dịch của vacxin trước hết được đánh giá trên động vật thí nghiệm, sau đó trên thực địa.

     Trên động vật thí nghiệm: đánh giá múc độ đáp ứng miễn dịch sau tiêm chủng vacxin và đánh giá hiệu lực bảo vệ lô động vật đã được tiêm chủng khi chúng được thử thách bằng vi sinh vật gây bệnh.

     Thử nghiệm trên thực địa: vacxin được tiêm chủng cho một cộng đồng, theo dõi thống kê tất cả các phản ứng phụ và đánh giá khả năng bảo vệ khi mùa dịch tới.

     Ngoài 2 tiêu chuẩn trên, ngườita còn quan tâm đến giá thành và tính thuận lợi khi tiến hành tiêm chủng.

Các yếu tố ảnh hưởng đến sự đáp ứng miễn dịch đối với vacxin

Tính kháng nguyên của vacxin

     Tính kháng nguyên phụ thuộc vào bản chất hóa học (protein, polysaccharid,…), phân tử lượng (cao hay thấp), cấu trúc hóa học (phức tạp hay đơn giản). Nói một cách khái quát thì tính kháng nguyên càng cao khi nó càng “lạ” đối với cơ thể.

Liều lượng

     Liều lượng quá thấp không đủ kích thích cơ thể sinh miễn dịch. Ngược lại, nếu liều lượng quá cao sẽ dẫn đến tình trạng dung nạp miễn dịch.

Đường đưa vacxin vào cơ thể

     Mỗi loại vacxin được đưa vào cơ thể theo một đường thích hợp. Những vacxin bị phá huỷ bởi dịch dạ dày, dịch ruột thì không đưa vào cơ thể bằng đườnguống; những vacxin nhằm kích thích miễn dịch tiết tại chỗ thì không đưa vào cơ thể bằng đườngtiêm. Vacxin không được sử dụng đúng đường không những không tạo được miễn dịch mà còn có thể gây ra những tác dụng không mong muốn nguy hiểm.

Chất phụ gia miển dịch (Immunological Adjuvant)

     Chất phụ gia miễn dịch có 2 tác dụng:

1) Làm cho vacxin giáng hóa chậm, vì vậy có thể giảm được lượng vacxin và giảm số lần tiêm chủng;

2) Làm tăng sự kích thích cơ thể đáp ứng miễn dịch.

     Chất phụ gia miễn dịch thường được sử dụng là các hợp chất của nhôm (aluminum hydroxy de, aluminum phosphate).

Kháng thể mẹ truyền

     Sự tồn tại một lượng nhỏ kháng thể mẹ truyền cũng có thể ức chế sự đáp ứng kháng thể đối vớikháng nguyên tương ưng.

Tình trạng của chủ thể

     Cơ thể chỉ đáp ứng tốt với vacxin khi bộ máy miễn dịch hoàn chỉnh. Tình trạng dinh dưỡng kém cũng hạn chế mức độ đáp ứng miễn dịch. Điều này không có nghĩa là hạn chế tiêm chủng cho trẻ em suy dinh dưỡng, trái lại còn phải quan tâm hơn!




Từ khòa tìm kiếm nhiều: vi sinh vật, triệu chứng viêm não nhật bản

Nguyên lý và nguyên tắc sử dụng Vacxin

Nguyên lý

    Sử dụng vacxin là đưa vào cơ thể kháng nguyên có nguồn gốc từ vi sinh vật gây bệnh hoặc vi sinh vật có cấu trúc kháng nguyên giống vi sinh vật gây bệnh, đã được bào chế đảm bảo độ an toàn cần thiết, làm cho cơ thể tự tạo ra tình trạng miễn dịch chống lại tác nhân gây bệnh.

vacxin


Nguyên tắc sử dụng Vacxin

Phạm vi và tỷ lệ tiêm chủng

    Phạm vi tiêm chủng của mỗi nước, mỗi khu vực được quy định tuỳ theo tình hình dịch tễ của bệnh nhiễm trùng. Những quy định này có thể thay đổi theo thời gian do sự thay đổi về dịch tễ học của bệnh nhiễm trùng.

    Tiêm chủng phải đạt trên 80% đối tượng chưa có miễn dịch mới có khả năng ngăn ngừa được dịch.

Đối tượng tiêm chủng

    Đối tượng cần được tiêm chủng là tất cả những người có nguy cơ nhiễm vi sinh vật gây bệnh mà chưa có miễn dịch. Trẻ em cần được tiêm chủng rộng rãi. Đối với ngườilớn, vacxin thường chỉ dành cho những nhóm người có nguy cơ cao.

    Diện chống chỉ định tiêm chủng có hướng dẫn riêng đối vớimỗi vacxin. Nói chung không được tiêm chủng cho các đối tượng sau đây:

- Những ngườiđang bị sốt cao.

- Những người đang có biểu hiện dị ứng.

    Vacxin sống giảm độc lực không được tiêm chủng cho những  người bị thiếu hụt miễn dịch, những người đang dùng thuốc đàn áp miễn dịch hoặc những ngườimắc bệnh ác tính.

    Vacxin virus sống giảm độc lực không được tiêm chủng cho phụ nữ đang mang thai.

Thời gian tiêm chủng

    Phải tiến hành tiêm chủng đón trước mùa dịch, để cơ thể có đủ thời gian hình thành miễn dịch.

    Đối với những vacxin khi tạo miễn dịch cơ bản phải tiêm chủng nhiều lần, khoảng cách hợp lý giữa các lần là 1 tháng.

    Thời gian tiêm chủng nhắc lại tuỳ thuộc vào thời gian duy trì được tình trạng miễn dịch còn đủ hiệu lực bảo vệ của mỗi loại vacxin.

Liều lượng và đường đưa vacxin vào cơ thể

Liều lượng

    Liều lượng vacxin tuỳ thuộc vào loại vacxin và đườngđưa vào cơ thể. Liều lượng quá thấp sẽ không đủ khả năng kích thích cơ thể đáp ứng miễn dịch. Ngược lại, liều lượng quá lớn sẽ dẫn đến tình trạng dung nạp đặc hiệu.

Đường tiêm chủng

Chủng: là đườngcổ điển nhất, ngày nay vẫn còn được sử dụng cho một số ít vacxin.

Tiêm: tuỳ loại vacxin có thể tiêm trong da, tiêm dưới da hoặc tiêm bắp.

Uống: đườnguống kích thích miễn dịch tiết tại đường ruột mạnh hơn nhiều so vớiđườngtiêm.

Vacxin còn được đưa vào cơ thể theo một số đường khác nhưng ít được sử dụng.

Các phản ứng không mong muốn do tiêm chủng.

    Tất cả các vacxin đều có thể gây ra phản ứng không mong muốn (phản ứng phụ) ở một số người.

    Tại chỗ: nơi tiêm có thể hơi đau, mẩn đỏ, hơi sưng hoặc nổi cục nhỏ. Những phản ứng này sẽ mất đi nhanh chóng sau một vài ngày, không cần phải can thiệp gì. Nếu tiêm chủng không đảm bảo vô trùng, thì nơi tiêm chủng có thể bị nhiễm trùng.

    Toàn thân: sốt hay gặp nhất, thường hết sau một vài ngày. Co giật có thể gặp nhưng vớitỷ lệ rất thấp, hầu hết khởi không để lại di chứng gì. Sốc phản vệ cũng có thể gặp nhưng với tỷ lệ hết sức thấp.

Bảo quản vacxin

    Vacxin phải được bảo quản tốt ngay từ lúc sản xuất cho tới khi được tiêm chủng vào cơ thể. Thường quy bảo quản các vacxin không giống nhau, nhưng nói chung đều cần được bảo quản trong điều kiện khô, tối và lạnh.

    Nhiệt và ánh sáng phá huỷ tất cả các loại vacxin, nhất là những vacxin sống. Ngược lại, đông lạnh phá huỷ nhanh các vacxin giải độc tố. Trong quá trình sử dụng ởcộng đồng, vacxin cần được bảo quản ởnhiệt độ từ 2°c đến 8°c.

    Các hóa chất sát trùng đều có thể phá huỷ vacxin. Nếu dụng cụ tiêm chủng được khử trùng bằng hóa chất thì chỉ cần một lượng rất nhỏ dính lại cũng có thể làm hỏng vacxin.

Đọc thêm tại:


Mục đích sử dụng và các phản ứng kết gộp của phản ứng KN -KT

Mục đích sử dụng phản ứng KN-KT

Chẩn đoán các bệnh nhiểm trùng

bệnh nhiểm trùng


Chẩn đoán trực tiếp

- Xác định tên vi sinh vật bằng kháng huyết thanh mẫu (huyết thanh có loại KT đã biết).

- Phát hiện trực tiếp KN của vi sinh vật có trong bệnh phẩm.

Chẩn đoán gián tiếp:

     Dùng KN mẫu (đã biết tên) để phát hiện KT đặc hiệu trong các dịch cơ thể, thường là trong huyết thanh (HT), vì vậy còn được gọi là phản ứng HT học.

Nghiên cứu dịch t học của các bệnh nhiễm trùng

- Điều tra tình tình nhiễm một loại vi sinh vật nào đó thông qua việc điều tra KT trong HT của mẫu nghiên cứu. Tuy nhiên đây chỉ là một trong nhiều nội dung nghiên cứu dịch tễ học.

- Định loại vi sinh vật

     Dùng kháng HT mẫu chống lại các nhóm hoặc các týp vi sinh vật để định nhóm, định týp. Phương pháp này cho phép hiểu biết về cấu trúc KN của vi sinh vật, có thể xếp chúng thành các týp HT.Nghiên cứu sự đáp ứng của cơ thể với KN vi sinh vật

     Một trong những nghiên cứu thuộc loại này là đánh giá hiệu lực đáp ứng miễn dịch của một vacxin. Đây là việc nhất thiết phải làm trước khi thử nghiệm hiệu lực bảo vệ của vacxin.

Nhận định kết quả và các phản ứng kép gộp KN-KT

    Bất kỳ PƯ kết KN-KT nào cũng nhằm mục đích xác định KT hoặc KN, có thể là định tính hoặc định lượng.

Định tính

    Kết quả định tính chỉ cho biết trong mẫu xét nghiệm có hay không có KT hoặc KN. Có những trường hợp chỉ cần định tính đã có giá trị chẩn đoán. Đó là các trường hợp xác định những KN hoặc KT mà bình thường không có trong những mẫu xét nghiệm lấy từ người khỏe mạnh. Ngược lại đối vớinhững loại KN hoặc KT có thể tìm thấy cả ởngười bình thường thì chỉ định lượng mới có giá trị chẩn đoán.

Định lượng

    Trong mục này chỉ trình bày việc nhận định kết quả định lượng trong chẩn đoán HT (phương pháp chẩn đoán gián tiếp các bệnh nhiễm trùng qua việc xác định KT trong HT).

Hiệu giá KT:

     Hiệu giá KT phản ánh nồng độ KT trong HT. Hiệu giá KT là độ pha loãng HT lớn nhất mà PƯ còn dương tính. Trong một số trường hợp, hiệu giá KT còn được tính bằng đơn vị KT có trong một đơn vị thể tích HT.

     Sau khi xác định hiệu giá KT, việc đánh giá kết quả phải dựa vào hiệu giá ranh giới (ngưỡng) giữa bình thường và bệnh lý, vì người khỏe bình thưòng vẫn có thể có KT chống lại một số vi sinh vật. Tuy nhiên không phải cứ có hiệugiá KT cao hơn ngưỡng là bệnh lý, và ngược lại cứ thấp hơn là người lành. Hiệu giá KT càng cao hơn ngưỡng thì khả năng mắc bệnh càng lớn, càng thấp hơn ngưỡng thì khả năng mắc bệnh càng ít. Việc xác định hiệu giá KT ởmột thời điểm thường chưa đủ để có kết luận chắc chắn, cần phải tiến hành 2 lần ở2 thời điểm cách nhau từ 7 đến 10 ngày để tìm động lực KT.

Động lực KT

- Là đại lượng đặc trưng cho mức độ thay đổi hiệu giá KT theo thời gian.

- Động lực KT là thương số (không phải là hiệu số) giữa hiệu giá KT lần thứ hai và lần thứ nhất. Khi KT đang tăng thì động lực lớn hơn 1. Khi KT không thay đổi thì động lực bằng 0.

- Khi KT đang giảm thì động lực nhỏ hơn 1. Mặc dù về lý thuyết khi động lực KT lớn hơn 1 là đang có KN kích thích cơ thể hình thành KT, nhưng trên thực tế động lực KT ít nhất phải bằng 4 (tức là tăng 2 bậc khi HT được pha loãng bậc 2) mỗi có giá trị chẩn đoán chắc chắn là bệnh nhân đang mắc bệnh nhiễm trùng. Khi xét nghiệm lần thứ hai nếu hiệu giá KT chỉ tăng hơn lần thứ nhất 1 bậc thì chưa chắc đã phải là KT tăng thực sự hay chỉ do sai số kỹ thuật.



Các phản ứng gây ly giải tế bào và miễn dịch huỳnh quang

Các phản ứng gây ly giải tế bào

Nguyên lý

    KT đặc hiệu với sự tham gia của bổ thể sẽ gây ly giải tế bào. Trong các phản ứng gây ly giải tế bào, phản ứng kết hợp bổ thể được sử dụng nhiều hơn cả.

Các bước tiến hành PƯ kết hợp bổ thể

bổ thể


Tiến hành:                                                                      

    Cho KN, HT cần xét nghiệm và bổ thể, ở 37 độ C/30 phút hoặc 6°c/16 giờ.

    Cho thêm hồng cầu cừu đã trộn với KT tương ứng, để ở 37°c trong 15 – 30 phút.

Đọc kết quả:

    Nếu hồng cầu cừu không tan là dương tính. Nếu hồng cầu bị tan là âm tính .

Nguyên lý chung:

    KN hoặc KT được xác định nhờ chất đánh dấu được gắn với KT hoặc KN.

    Điều kiện cần thiết là chất đánh dấu không được làm thay đổi hoạt tính miễn dịch của KN và KT.                                                                   

Miễn dịch huỳnh quang (MDHQ)                                            

    Trong MDHQ, chất đánh dấu là chất màu huỳnh quang, kết quả được đọc nhờ kính hiển vi huỳnh quang.

MDHQ trực tiếp

    Nguyên lý: KN được phát hiện nhờ KT mẫu gắn huỳnh quang.

Phương pháp MDHQ gián tiếp

    Nguyên lý: KT được phát hiện nhờKN mẫu và kháng KT (KKT) mẫu gắn huỳnh quang. Các bước tiến hành.

Phản ứng miễn dịch phóng xạ (RIA-Radioimmunoassay)

    Nguyên lý: Phức hợp KN-KT được phát hiện nhờ KT hoặc KN gắn chất đồng vị phát xạ. Có thể phát hiện nơi phát xạ (nơi xảy ra PƯ kết hợp KN-KT) hoặc đo cường độ phát xạ (mức độ hình thành phức hợp KN-KT).

Phản ứng miễn dịch enzym ELISA (Enzyme-Linked Immunosorbent Assay)

    Nguyên lý: Phức hợp KN-KT được phát hiện nhờ enzym gắn với KT hoặc KKT tác động lên cơ chất đặc hiệu.

    Có nhiều kỹ thuật ELISA. Sau đây chỉ giới thiệu 2 kỹ thuật, một để phát hiện KT và một để phát hiện KN:

Kỹ thuật dùng KKT gắn enzym để phát hiện KT

    Phản ứng này sử dụng KN mẫu và KKT mẫu gắn enzym.

Kỹ thuật dùng KKT gắn enzym để phát hiện KN

    Phản ứng này sử dụng KT mẫu và KKT mẫu gắn enzym.

Sắc ký miễn dịch

    Phức hợp kháng KT (KKT) gắn chất màu được phân bố đều trên bản sắc ký. KN đặc thù của vi sinh vật được gắn cố định tại “vạch PƯ” . Khi nhỏ HT cần xác định KT lên bản sắc ký, KT đặc hiệu (nếu có) trong HT sẽ kết hợp với KKT gắn màu, phức hợp KT-KKT gắn màu này di chuyển trên giấy sắc ký sẽ bị giữ lại tại “vạch Pư” do KT kết hợp với KN vi sinh vật, kết quả “vạch Pư’ hiện màu. Nếu trong HT không có KT đặc hiệu, ở “vạch Pư”  KN không thể giữ được KKT gắn màu, vì vậy không hiện màu.




Từ khòa tìm kiếm nhiều: vi sinh vật học, bệnh viêm não nhật bản

Phản ứng hạt ngưng kết và phản ứng trung hòa

Phản ứng hạt ngưng kết

Điều kiện để hình thành hạt ngưng kết

     Các hạt ngưng kết thực chất là mạng lưới KN-KT. Để có thể hình thành mạng lưới này, ngoài tính đặc hiệu của KN và KT, phải có thêm hai điều kiện cơ bản:

- KN và KT phải đa giá (có nhiều vị trí kết hợp).

- KN và KT phải có nồng độ tương đương.

Phản ứng ngưng kết trực tiếp (ngưng kết chủ động)

     Trong phản ứng ngưng kết trực tiếp, thành phần KN trên tế bào vi khuẩn (hoặc tế bào khác), kết hợp với KT đặc hiệu tạo thành mạng lưới ngưng kết. Các tế bào góp một phần lớn tạo lên kích thước của hạt ngưng kết

Phản ứng ngưng kết gián tiếp (ngưng kết thụ động)

     Trong phản ứng ngưng kết gián tiếp, KN ở dạng hoà tan được gắn lên nền mượn hữu hình (thường là hồng cầu hoặc hạt latex). Khi KN gặp KT đặc hiệu, hiện tượng ngưng kết sẽ xảy ra do nền mượn tụ tập lại một cách “thụ động”

     Để phát hiện KN, người ta lại gắn KT lên nền mượn. Khi KT gặp KN đặc hiệu, hiện tượng ngưng kết cũng sẽ xuất hiện. Loại này được gọi là phản ứng “ngưng kết thụ động ngược”. Có một phản ứng cũng theo nguyên lý ngưng kết thụ động ngược có tên là “đồng ngưng kết protein A”. Phản ứng này dựa trên hiểu biết rằng, protein A trên bề mặt của s. aureus là thụ thể cho phần Fc của phân tử IgG.

s. aureus


Phản ứng trung hoà

Nguyên lý

     KT đặc hiệu có khả năng trung hoà độc tố, độc lực của vi sinh vật, hoặc làm mất đi một tính chất nào đó của vi sinh vật hoặc sản phẩm của nó.

Phản ứng trung hoà in vitro

     Bao gồm những phản ứng trung hoà được tiến hành trên dụng cụ thí nghiệm.

Ví dụ phản ứng ngăn ngưng kết hồng cầu để chẩn đoán virus:

Nguyên lý:

Virus + Hồng cầu          Hồng cầu bị ngưng kết

(Virus + KT đặc hiệu) + Hồng cầu =>  Hồng cầu không bị ngưng kết

Bao gồm những phản ứng trung hoà đượctiến hành trên cơ thể sống.

Ví dụ PƯ trung hoà trên chuột lang để xác định một chủng vi khuẩn nào đó là vi khuẩn bạch hầu hay giả bạch hầu.

Nguyên lý:

Chuột A + Kháng độc tố BH + VK? => Chuột sống.

Chuột B + NaCl 0,9% + VK   Chuột chết => VK bạch hầu




Từ khòa tìm kiếm nhiều: vi sinh vật, triệu chứng viêm não nhật bản

Các phản ứng kết tủa của KN – LT được dùng trong vi sinh vật

     Có rất nhiều phản ứng kết hợp KN-KT được dùng trong vi sinh vật, căn cứ vào cách quan sát nhận định kết quả, có thể xếp thành 3 nhóm.


kháng nguyên


Các phản ứng tạo thành hạt

     Là các phản ứng mà phức hợp KN-KT hình thành dưới dạng những “hạt” có thể quan sát được bằng mắt thường hoặc nhờ sự trợ giúp của kính lúp.

Phản ứng kết tủa

     Nguyên lý: Phản ứng kết tủa là sự kết hợp giữa KN hoà tan (KN ở tầm phân tử) với KT tương ứng, tạo thành các hạt có thể quan sát trực tiếp bằng mắt thường hoặc nhờ sự trợ giúp của kính lúp.

Phản ứng kết tủa trong môi trường lồng

     Khi dung dịch KN và dung dịch KT được trộn với nhau theo một tỷ lệ thích hợp, phức hợp KN-KT sẽ hình thành dưới dạng những hạt kết tủa.

     Lượng tủa hình thành không chỉ phụ thuộc vào số lượng tuyệt đối của KN và KT, mà còn phụ thuộc vào mối tương quan về lượng giữa KN và KT.

     Với một lượng kháng HT (KT) hằng định, nếu cho tăng dần lượng KN thì ban đầu lượng tủa tăng dần, nhưng đến một lúc nào đó lượng tủa không tăng nữa mặc dù lượng KN vẫn tiếp tục tăng. Khi KN quá nhiều, lượng tủa hình thành lại tỷ lệ nghịch với lượng KN.

Phản ứng kết tủa trong gel thạch

     Có nhiều kỹ thuật kết tủa trong gel thạch, dưới đây là một số kỹ thuật thường được sử dụng:

     Kỹ thuật khuếch tán trong ông nghiệm (kỹ thuật Oudin):

     Kỹ thuật khuếch tán đơn: Cho thạch đã hoà đều KT vào đoạn dưới ống nghiệm, rồi cho dung dịch KN lên trên. KN sẽ khuếch tán xuống thạch, càng xuống sâu nồng độ KN càng thấp. Tại vùng KN và KT tương đương sẽ xuất hiện đườngtủa.

     Kỹ thuật khuếch tán kép: Giữa KT và KN có một lớp gel thạch, cả KN và KT đều khuếch tán vào lớp gel thạch này. Tại vùng KN và KT tương đương sẽ xuất hiện đường tủa Kỹ thuật khuếch tán trên phiến kính hoặc đĩa etri:

     Kỹ thuật khuếch tán đơn Mancini): Kháng HT được hoà đều trong gel thạch nóng chảy rồi phủ một lớp mỏng đều lên phiến kính. Sau khi thạch đã đông, tạo các lỗ rồi cho vào các lỗ đó dung dịch của một loại KN nhưng có nồng độ khác nhau. Quanh các lỗ sẽ xuất hiện vòng kết tủa, lỗ nào có nồng độ KN càng cao thì vòng kết tủa càng rộng.

    Nguyên lý: là sự kết hợp giữa KN hữu hình (tế bào hoặc tầm tế bào) với K.T, tạo thành phức hợp KN-KT dưới dạng những hạt ngưng kết có thể được quan sát bằng mắt thường.




Các cơ chế của miễn dịch tế bào trong chống nhiễm trùng

Các Vai trò của miễn dịch tế bào trong chổng nhiễm trùng


Vai trò của miễn dịch tế bào


     Kháng thể có vai trò rất quyết định trong chống nhiễm trùng. Với các vi sinh vật ký sinh ngoài tế bào thì kháng thể, BT và các tế bào thực bào đã có thể hoàn toàn làm mất độc lực của vi sinh vật và loại trừ chúng ra khởi cơ thể. Nhưng với các vi sinh vật ký sinh bên trong tế bào (mầm bệnh nội tế bào), kháng thể chỉ có tác dụng ởgiai đoạn vi sinh vật chưa chui vào tế bào. Khi các vi sinh vật đã ở trong tế bào, cơ thể cần có miễn dịch tế bào mối chống lại được chúng. Vì kháng thể không thể chui vào trong tế bào để kết hợp vớicác vi sinh vật. Các mầm bệnh nội tế bào được chia làm 2 loại:

- Ký sinh nội bào bắt buộc như các virus, Rickettsia, Chlamydia.

- Ký sinh nội bào không bắt buộc (có thể sinh sản được cả trong và ngoài tế bào) như vi khuẩn lao, phong, Brucella, Listeria monocytogenes, Salmonella-, nấm Candida albicans.

Cơ chế đặc hiệu của miễn dịch tế bào trong chống nhiễm trùng: cơ chế này do lympho T (Ly T) quyết định. Có hai loại Ly T tham gia vào miễn dịch tế bào.

- Ly Tc(TCD8, T độc sát tế bào, cytotoxic cell).

- Ly Tc có khả năng tiêu diệt các tế bào đích, khi nó tiếp xúc trực tiếp các tế bào đích. Các tế bào đích có thể là tế bào ung thư hoặc tế bào bị nhiễm virus, với sự xuất hiện của kháng nguyên đặc hiệu trên bề mặt tế bào đích gắn với MHCl. Các tế bào đích phải có cùng kháng nguyên hòa hợp tổ chức lớp 1 (MHCl) vớiLy Tc nhưng không cần có sự có mặt của kháng thể đặc hiệu. Tế bào đích và các virus chứa bên trong nó bị tiêu diệt.

- TCD4(trước đây gọi là TXDHT helper)

      Phản ứng quá mẫn muộn để chống lại các mần bệnh nội tế bào, nhờ tác dụng của các lymphokin do tế bào TCD4sản xuất (IL2, gama interferon…).

     Tóm lại: cơ thể có bị bệnh nhiễm trùng hay không là phụ thuộc vào sự tương quan giữa vi sinh vật gây bệnh và sự đề kháng của cơ thể. Sự đề kháng của cơ thể gồm hai hệ thống đặc hiệu và không đặc hiệu (tự nhiên và thu được). Hai hệ thống này bổ sung, hỗ trợ nhau và không thể tách rời nhau. Nhưng sự đề kháng đặc hiệu đóng vai trò quyết định hơn. Sự đề kháng của cơ thể còn phụ thuộc vào tình trạng sinh lý (chủ yếu là tuổi tác), vào điều kiện sống và làm việc. Một số bệnh, nhất là những bệnh làm suy giảm miễn dịch (bệnh của cơ quan miễn dịch và một số bệnh nhiễm trùng) đã làm tăng sự nhiễm trùng.




Từ khòa tìm kiếm nhiều: vi sinh vật học, bệnh viêm não nhật bản