Giới thiệu về vi khuẩn dịch hạch

       Yersinia pestis do nhà vi khuẩn học người Thuỵ Sỹ, tên là A.J.E Yersin, phân lập lần đầu tiên năm 1894 trong một vụ dịch hạch ở Hồng Kông. Năm 1896, Lehmann và Neumann đặt tên cho vi khuẩn này là Bacterium pestis (pestis = dịch hạch). Năm 1944, Van Loghen chuyển chúng sang giống Yersinia để ghi công của Yersin.

   Yersinia pestis thuộc giống Yersinia, họ vi khuẩn đường ruột (Enterobacteriaceae). Giống Yersinia hiện nay có 10 loài, trong đó, 3 loài gây bệnh cho người quan trọng nhất là: Y. pestis, Y. pseudotuberculosisvà Y. enterocolitica.

Giới thiệu về vi khuẩn dịch hạch

ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC

          Hình thái

        Vi khuẩn dịch hạch có hình bầu dục (cầu trực khuẩn) nhỏ, kích thước 0,5 – 0,8 x 1 – 2 µm. Bắt màu Gram âm, đậm ở hai cực. Khi nhuộm bằng phương pháp Wayson, đặc điểm này thể hiện rõ hơn và là dấu hiệu có giá trị để chẩn đoán nhanh bệnh dịch hạch.

        Tuy nhiên, nếu nhuộm từ môi trường nuôi cấy (nhất là nuôi cấy già hoặc cấy chuyển nhiều lần) thì có thể gặp nhiều loại hình thể khác nhau (đa hình thái). Không sinh nha bào, có thể có vỏ khi nuôi cấy trên môi trường thích hợp ở 37°c hoặc khi tiêm truyền cho động vật thí nghiệm. Không có vỏ khi nuôi cấy ở 28°c.

         Nuôi cấy

       Y. pestismọc được trên các môi trường nuôi cấy thông thường, nhưng chậm. Sau 48 giờ ở 28°c, đường kính khuẩn lạc khoảng 1 – 1,5 mm, bờ trải mỏng ra và không đều, bề mặt nhẵn hoặc xù xì, trung tâm lôi tạo nên hình ảnh trông giống như nửa chiếc vỏ trai úp xuống.

       Trên môi trường lỏng, Y. pestislúc đầu làm đục đều, dần dần tạo nên các khúm hình nhũ đá (stalactite) ở thành ống. Những khúm này, sau đó, rơi xuống đáy ống làm thành lắng cặn và môi trường trở nên tương đối trong. Y. pestiskỵ khí tuỳ tiện, nhiệt độ nuôi cấy thích hợp nhất là 28°c.




Từ khòa tìm kiếm nhiều: vi sinh vật, triệu chứng viêm não nhật bản

Phòng bệnh và điều trị Pseudomonas aeruginosa

          Phòng bệnh không đặc hiệu

     Phòng bệnh không đặc hiệu đóng vai trò chính trong việc ngăn ngừa nhiễm trực khuẩn mủ xanh. Giữ gìn vệ sinh chung, triệt để thực hiện các quy trình tiệt trùng, làm đúng các thao tác vô trùng để tránh lây chéo trong bệnh viện. Đối với cá nhân: giữ gìn vệ sinh, tránh sây sát da và niêm mạc, tăng cường sức đề kháng chung, tránh lạm dụng kháng sinh và các thuốc gây suy giảm miễn dịch.

         Điều trị

  Trực khuẩn mủ xanh kháng lại nhiều kháng sinh thông dụng (penicillin, ampicillin, chloramphenicol và tetracyclin), nhất là những chủng gây nhiễm trùng bệnh viện. Người ta thường dùng aminoglucoside (gentamicin, amikacin, tobramycin) hoặc cephalosporin thế hệ 3 (ví dụ, ceftazidime) hoặc imipenem để điều trị các nhiễm trùng do trực khuẩn mủ xanh.

        Đặc điểm hóa sinh

   Oxidase và catalase (+). Trên môi trường OF, nhiều carbohydrat bị phân giải theo lối oxy hóa có sinh acid: arabinose, dulcitol, fructose, galactose, glucose, glycerol, lactose và mannitol; gelatinase, arginin dihydrolase và citrat Simmons (+); urease và trypthophanase (-) ; khử NO3 đến N2. Di động mạnh bằng một chùm lông chỉ có ở một cực.

Phòng bệnh và điều trị Pseudomonas aeruginosa


         Đề kháng

      B. pseudomallei sống tự do ở ngoài môi trường tự nhiên; người ta đã tìm thấy chúng trên các cánh đồng lúa nước ở vùng đông-nam châu Á. Sức chịu đựng với các điều kiện ngoại cảnh tương tự như p. aeruginosa.

         Miễn dịch

     Do vi khuẩn phân bố rộng rãi trên đồng ruộng, 30 – 50% nông dân khỏe mạnh sống trong vùng B. pseudomalleilưu hành có kháng thể chống vi khuẩn này. Khi bị mắc bệnh, kháng thể tăng cao và còn tồn tại vài tháng sau khi khỏi bệnh. Tuy vậy, kháng thể này không có vai trò bảo vệ, bệnh nhân có thế bị tái nhiễm hoặc tái phát một cách dễ dàng.



Từ khòa tìm kiếm nhiều: vi sinh vật học, bệnh viêm não nhật bản

Khả năng gây bệnh của Pseudomonas aeruginosa


       Trực khuẩn mủ xanh là loại vi khuẩn gây bệnh có điều kiện. Khi cơ thể bị suy giảm miễn dịch (tự nhiên hoặc mắc phải), bị mắc các bệnh ác tính hoặc mạn tính, dùng lâu dài corticoid, kháng sinh hoặc các chất chông ung thư thì dễ mắc bệnh nhiễm trùng nội sinh hoặc ngoại sinh do trực khuẩn mủ xanh.

       Người ta đã tìm thấy trực khuẩn mủ xanh ở khắp nơi trong bệnh viện: đầu các ống thông, máy khí dung, máy hô hấp nhân tạo, máy hút ẩm, bình chứa nước, vòi nước máy, thậm chí trong cả một số dung dịch vẫn dùng để rửa vết thương do pha chế hoặc bảo quản không tốt. Trực khuẩn mủ xanh cùng vối tụ cầu vàng là hai vi khuẩn thường gặp nhất trong nhiễm trùng bệnh viện.

      Trực khuẩn mủ xanh từ môi trường bên ngoài xâm nhập vào cơ thể qua các vết thương hở (nhất là bỏng). Tại chỗ xâm nhập, chúng gây viêm có mủ (điển hình, mủ có màu xanh); nếu cơ thể suy giảm sức đề kháng, chúng có thể xâm nhập vào và gây viêm các phủ tạng (xương, đường tiết niệu, tai giữa, phế quản, màng não) hoặc gây bệnh toàn thân (nhiễm khuẩn huyết, viêm nội tâm mạc). Về bệnh sinh học, có giả thuyết cho rằng, các sản phẩm ngoại tiết như sắc tế, độc tố tan máu, độc tố ruột, ngoại độc tố A (độc tố gây chết) có vai trò chính.

Khả năng gây bệnh của Pseudomonas aeruginosa
VI SINH VẬT

CHẨN ĐOÁN VI SINH VẬT

      Những bệnh phẩm lấy từ ổ kín (ổ mủ chưa võ, dịch màng phổi, dịch màng não) hoặc từ máu thì cấy trực tiếp vào môi trường thạch thường. Nhũng bệnh phẩm lấy từ những vùng tạp nhiễm (ổ mủ đã vỡ, đờm, nhầy họng) thì cấy vào môi trường có cetrimid (chất ức chê). Để các môi trường đã cay bệnh phẩm ở 37°c trong khí trường thường.

     Chọn các khuẩn lạc màu xanh và nhuộm xanh môi trường để làm các thử nghiệm xác định vi khuẩn. Trong thực hành bệnh viện, nếu những khuẩn lạc như trên là trực khuẩn Gram âm không sinh nha bào, oxidase (+), chuyển hóa đường theo kiểu oxy hóa thì được coi là trực khuẩn mủ xanh.

    Có khoảng 10% số chủng trực khuẩn mủ xanh không sinh sắc tố; trong những trường hợp này, chẩn đoán vi khuẩn học gặp nhiều khó khăn. Người phải dùng các môi trường tăng sinh sắc tố: môi trường King A (tăng sinh pyocyanin) và môi trường King B (tăng sinh pyoverdins).





Giới thiệu về Pseudomonas aeruginosa

       Họ Pseudomonadaceae do Winslow và cộng sự mô tả năm 1917, đây là một họ lớn và phức tạp. Họ Pseudomonadaceae, hiện nay, gồm 7 giống: Chryceomonas, Comamonas, Flavimonas, Shewanella, Xanthomonas, Pseudomonas và Burkholderia.

    Hai vi khuẩn có tầm quan trọng nhất trong y học là trực khuẩn mủ xanh và trực khuẩn Whitmore.

Giới thiệu về Pseudomonas aeruginosa

     Pseudomonas aeruginosa, trước đây gọi là Bacterium aeruginosa, do Schroeter mô tả năm 1872. Năm 1900, Migula chuyển chúng sang giống Pseudomonas, từ đó, vi khuẩn mang tên Pseudomonas aeruginosa(Pseudes, tiếng Hylạp, = giả; monas, tiếng Hylạp, = đơn vị; aeruginosa= gỉ đồng).

      Ngay từ trước khi phân lập được vi khuẩn này, người ta đã có nhận xét rằng, trong một số trường hợp, vết thương sinh ra một loại mủ đặc biệt có màu xanh như màu gỉ đồng. Hiện tượng này đã được giải thích theo nhiều quan điểm khác nhau, nhưng chỉ có lòi giải thích thoả đáng khi người ta phân lập được vi khuẩn từ ổ mủ đó dưới dạng thuần khiết. Thì ra, hiện tượng này rất đơn giản, là do vi khuẩn đã sinh ra một loại sắc tố có màu xanh. Chính vì vậy, người ta thường gọi Pseudomonas aeruginosalà trực khuân mủ xanh.
         
 ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC

          Hình thái

    Trực khuẩn mủ xanh Gram âm, thẳng hoặc hơi cong nhưng không xoắn, hai đầu tròn. Kích thước từ 0,5-1,0 µmX 1,5-5,0 µm. Có một lông duy nhất ở một cực. Các pili của trực khuân mủ xanh dài khoảng 6 nm, là nơi tiếp nhận nhiều loại phage và giúp cho vi khuẩn gắn vào bề mặt của tế bào vật chủ. Trực khuẩn mủ xanh không sinh nha bào.

          Đặc điểm hóa sinh

   Trực khuẩn mủ xanh có đủ các cytochrom (b, c, a và oxidase) trong hệ thống vận chuyển điện tử. Trong thực hành, người ta thường dùng “oxidase test” để tìm sự có mặt của cytochrom oxidase. Các tính chất hóa sinh thường sử dụng trong lâm sàng gồm:

- Urease (-), indol (-), H2S (-); citrat Simmons, arginin dihydrolase và gelatinase (+); khử N03 đến N2. Trên môi trường OF (Oxidation

- Fermentation), nhiều loại carbohydrat bị thoái hóa theo lối oxy hóa có sinh acid: glucose, mannitol, glycerol, ethanol, arabinose, fructose và galactose.

Đặc điểm sinh học của Pseudomonas aeruginosa

      Nuôi cấy


        Trực khuẩn mủ xanh mọc dễ trên các môi trường nuôi cấy thông thường (thạch thưòng, thạch máu, canh thang), hiếu khí tuyệt đôi. Nhiệt độ tối ưu là 37°c, nhưng chúng có thể mọc được trong khoảng dao động rộng (5 – 42°C); pH thích hợp từ 7,2 – 7,5 (dao động 4,5 – 9,0).

         Trên môi trường đặc, có thể gặp hai loại khuẩn lạc: một loại to, nhẵn, bò trải dẹt, giữa lồi lên trông giống như quả trứng ốp (fried egg); một loại khác thì xù xì; cũng có khi gặp loại thứ ba, khuẩn lạc nhầy. Trong các bệnh phẩm lâm sàng, thường gặp loại thứ nhất; trong các mẫu lấy từ môi trường, thường gặp loại thứ hai. Tính chất đặc trưng của trực khuẩn mủ xanh là sinh sắc tô” và chất thơm. Có hai loại sắc tố chính:

-    Pyocyanin: có màu xanh lá cây, tan trong nước và chloroform, khuyếch tán tốt ra môi trường nuôi cấy, làm cho môi trường và khuẩn lạc có màu xanh nên có thể nhận ra nó một cách dễ dàng bằng mắt thường. Pyocyanin thuộc loại sắc tố phenazin, cấu trúc hóa học của nó đã được phân tích chi tiết. Chính sắc tố này đã làm cho mủ có màu xanh.

-   Pyoverdins: là loại sắc tố huỳnh quang, phát màu xanh khi chiếu tia cực tím có bước sóng 400 nm. Pyoverdins không bền vững, dễ mất đi trong điều kiện nuôi cấy không chuẩn. Khi nuôi cây vi khuẩn ở môi trường có nồng độ sắt thấp, nó được tổng hợp nhiều hơn. Cấu trúc hóa học của pyoverdins chưa được biết đầy đủ.

Đặc điểm sinh học của Pseudomonas aeruginosa
Đặc điểm sinh học của Pseudomonas aeruginosa
 Khả năng đề kháng

   Trực khuẩn mủ xanh chết nhanh chóng ở 100°c. Trong môi trường ẩm, thoáng và không có ánh sáng mặt trời chiếu trực tiếp, chúng sống được hàng tuần; trong môi trường có dinh dưỡng tối thiểu; ở 5°c, chúng sống được hơn 6 tháng.

 Kháng nguyên

   Kháng nguyên 0 chịu nhiệt, bản chất hóa học là lipopolysaccharid (LPS). Dựa vào kháng nguyên này, người ta đã chia trực khuẩn mủ xanh thành 12 nhóm. Kháng nguyên H không chịu nhiệt, là kháng nguyên lông. Vì khó khăn trong việc điều chế, nên việc định týp huyết thanh dựa trên kháng nguyên này chưa được áp dụng rộng rãi.




Từ khòa tìm kiếm nhiều: vi sinh vật, triệu chứng viêm não nhật bản

Triệu chứng bệnh viêm não Nhật Bản

       Bệnh viêm não Nhật Bản đã được mô tả từ năm 1871, nhưng cho mãi tới năm 1934 virus viêm não Nhật Bản mới được Hayshi phát hiện tại Nhật Bản. Virus viêm não Nhật Bản được xếp vào nhóm B (Flavivirus) của Arbovirus, do vậy người ta còn gọi là virus viêm não Nhật Bản B.

Bệnh viêm não Nhật Bản
Bệnh viêm não Nhật Bản

 ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC

           Cấu trúc

      Virus viêm não Nhật Bản hình cầu, đối xứng hình khối, chứa ARN một sợi dương chiếm 6% trọng lượng của virion, kích thước virus vào khoảng 40 – 50μ, có vỏ envelop, hằng số lắng là 44S, trọng lượng phân tử là 4.106 Dalton.
          
          Nuôi cấy

       Có thể nuôi cấy virus viêm não Nhật Bản trên tế bào nuôi như: tế bào thận khỉ, tế bào thận lợn, đặc biệt virus phát triển tốt ở tế bào muỗi C6/36. Người ta còn nuôi cây virus vào não chuột nhắt trắng 1-3 ngày tuổi, virus phát triển làm cho chuột bị liệt. Cũng có thể nuôi cấy virus vào lòng đỏ trứng gà ấp được 8-9 ngày, sau 48-96 giờ, virus phát triển làm cho bào thai chết. Khả năng đề kháng: tương tự như virus Dengue.

         Tính chất kháng nguyên

     Virus viêm não Nhật Bản có kháng nguyên chung với những virus cùng nhóm Flavivirus, chính vì vậy trong phản ứng ngăn ngưng kết hồng cầu, nó có phản ứng chéo với các virus cùng nhóm, nhưng trong phản ứng ELISA thì ít có phản ứng chéo hơn. pH 6,2 là thích hợp nhất cho việc ngưng kết hồng cầu của virus.

KHẢ NĂNG GẦY BỆNH

         Dây chuyền dịch tễ học

       Virus viêm não Nhật Bản lưu hành rộng rãi ở châu Á. Trong khi Nhật Bản hiện nay đã căn bản thanh toán được bệnh này thì các nước như Ấn Độ, Banglades, Nepal, Thái Lan, Việt Nam…, số người bị bệnh viêm não Nhật Bản lại tăng. Các vụ dịch thường xẩy ra vào mùa hè. Virus được duy trì ở động vật có xương sống hoang dại (ĐVCXSHD), một số loài chim (chim liêu diếu) và gia súc (GS) như lợn, chó bò, ngựa…
        Vật trung gian truyền bệnh là muỗi thuộc giống Culex và Aedes trong đó muỗi Culex tritaeniorhynchus là vectơ chính, truyền virus qua các động vật có xương sống và từ đó truyền sang người.

          Khả năng gây bệnh cho động vật

         Virus viêm não Nhật Bản phát triển tốt trên chuột nhắt trắng mới đẻ và trương thành, khi gây nhiễm vào não và ổ bụng. Các loại chim như cò, gà…. cũng bị nhiễm virus. Điều này có ý nghĩa lớn trong việc lan truyền của viruts.

          Khả năng gây bệnh cho người

         Khi bị muỗi nhiễm virus viêm não Nhật Bản đốt, người có thể mắc bệnh viêm não Nhật Bản. Bệnh thường mắc ở trẻ em, tập trung ở lứa tuổi dưới 10 tuổi, phần lớn là thể ẩn, thể điển hình gặp rất ít, thời kỳ ủ bệnh từ 6*16 ngày. Ở các trường hợp nhẹ thì lâm sàng biểu hiện nhẹ như nhức đầu, sốt nhẹ, khó chịu trong vài ngày.
         Thể điển hình là viêm não có thể từ thể nhẹ hoặc bắt đầu đột ngột như: nhức đầu nặng, sốt cao, cứng cổ và thay đổi cảm giác, ở trẻ em có thể bị co giật. Bệnh nhân thường tử vong trong giai đoạn toàn phát. Bệnh nhân có thể bị di chứng, thường là biến loạn tinh thần, giảm-trí tuệ, thay đổi cá tính, cũng có khi di chứng sau 2 năm mối xuất hiện.



Nguyên tắc điều trị và phòng bệnh dại

            Phòng bệnh
       Cần tiêu diệt những động vật bị dại hoặc nghi dại. Trong số những động vật máu nóng thì chó là động vật bị nhiễm dại nhiều, mặt khác chó lại sống gần người do đó cần:
– Hạn chê nuôi chó.
– Nuôi chó phải xích hoặc nhốt không cho chạy rông ra đường.
– Tiêm vacxin phòng dại cho chó, mởi năm 1 lần vào mùa xuân trước khi bệnh dại có thể phát triển mạnh.

phòng bệnh dại


       Điều trị dự phòng
      Đối với người bị chó dại cắn hoặc mèo dại cắn, cào chúng ta phải:
– Tiêm kháng huyết thanh chống dại (SAR) dưới da, phía trên vết cắn trong vòng 72 giờ với liều lượng 0,2-0,5 ml, tương đương với 40 đơn vị cho 1 kg cân nặng.
– Sau đó 1-2 ngày, tiêm vacxin phòng dại. Tuỳ vacxin mà có cách tiêm và liều lượng khác nhau.
    Hiện nay ở Việt Nam có 2 vacxin dại đang được dùng là Fuénzalida và Verolab
       Cách xử lý trường hợp bị chó nghi dại cắn
      Khi bị chó nghi dại cắn, chúng ta phải bình tĩnh thực hiện đầy đủ các bước sau:
– Nhốt chó lại cho ăn uống đầy đủ, theo dõi trong vòng 10 ngày.
– Xử lý vết cắn ở người bàng cách: rửa sạch vết thương bằng nước xà phòng đặc 20% hoặc dung dịch Bensal konium clorua 20% hoặc dung dịch P- propiolacton 20%. Không khâu vết thương. Gây tế tại chở bằng procain.
– Nếu vết cắn ở vào chở nguy hiểm (gần đầu, sâu) thì tiêm ngay huyết thanh kháng dại rồi tiếp tục tiêm vacxin phòng dại.
– Nếu vết cắn bình thường (xa đầu, nông) thì theo dõi chó: nếu sau 10 ngày chó vẫn sống, ăn uống bình thường, thì không cần tiêm vacxin; nếu trong vòng 10 ngày, chó bị chết thì phải tiêm huyết thanh và vacxin ngay.
– Trường hợp chó chạy mất tích, bị đánh chết hoặc bị chó con cắn thì phải tiêm huyết thanh và vacxin ngay vì dấu hiệu dại ở chó con không rõ ràng.

Từ khòa tìm kiếm nhiều: vi sinh vật, triệu chứng viêm não nhật bản