Đặc điểm sinh họ Virus dại thuộc nhóm Rhabdovirus

         Cấu trúc
        Virus dại thuộc nhóm Rhabdovirus, nhóm này đều có chung đặc điểm về hình thể: hình gậy giống như hình đầu viên đạn, cấu trúc đối xứng hình xoắn, chứa ARN một sợi âm có hình dáng lượn sóng, bao quanh có lớp capsid và lớp envelop chứa protein. Chiều dài của hạt vừa dao động trong khoảng 140-300 nm, đường kính khoảng 70 nm. Virus dại cố định ngắn hơn virus dại hoang dại và thường có hình cầu, đường kính khoảng 60 nm.

virus nhóm Rhabdovirus


          Nuôi cấy
         Có thể nuôi cấy virus dại trên các tế bào nuôi tiên phát như: tế bào thận chuột đất, tế bào xơ phôi gà và trên các tế bào thường trực như: tế bào vero, tế bào thận chuột đất BHK-21. Khi cấy virus vào phôi gà ấp 7 ngày, vào túi lòng đỏ hay túi niệu đệm, hiệu giá tới đa của virus được nhận thấy vào ngày thứ 9, các phôi chậm phát triển nhưng ít khi chết. Nhiều động vật máu nóng như chuột nhắt, thở, chuột lang… cũng có thể được dùng để nuôi cấy virus.
          Khả năng để kháng
        Virus có thể bị bất hoạt bởi dung môi hoà tan lipid như: ether, natri desoxycholat, trypsin, formalin. Ánh sang mặt trời, tia cực tím nhanh chóng làm bất hoạt virus. Môi trường kiềm cao hoặc acid mạnh cũng tác dụng tiêu diệt virus. Virus bị chết ở nhiệt độ 56°c trong 30 phút, ở 80°c sau 3 phút.
       Virus dại bền vững ở môi trường có glycerol, phenol 0,5%. pH tới ưu của môi trường để bảo quản virus là 7,4-9,0. Với nhiệt độ -40°c trong các mẫu não, virus tồn tại vài tháng và ở -70°c có thể tồn tại hàng năm mà vẫn không mất tính chất gây bệnh.
        Đặc điểm kháng nguyên
      Virus có kháng nguyên V là kháng nguyên kích thích cơ thể sinh kháng thể trung hoà. Kháng nguyên không gắn liền với hạt virus, nó được tách ra từ khi hạt virion tách ra khỏi màng tế bào. Kháng nguyên s kích thích cơ thể sinh kháng thể kết hợp bổ thể. Kháng nguyên ngưng kết hồng cầu, đặc biệt là hông cầu ngỗng, có khả năng ngưng kết hồng cầu nhanh ở 4°c với pH 6,4.

Viruts viêm não Nhật Bản

         Cơ chế gây bệnh
         Virus nhiễm qua vết đốt vào máu. Sau thời kỳ nhiễm virus huyết, virus gây thương tổn ở não, viêm tế bào thần kinh, hạch thần kinh đệm và viêm quanh mạch. Những biến đổi thường xảy ra ở chất xám và ảnh hưởng trước tiên lên não trung gian và não giữa, làm cho bệnh nhân rối loạn ý thức, hôn mê ở nhiều mức độ khác nhau, có kèm theo liệt vận động.


 Cơ chế gây bệnh


         CHẨN ĐOÁN VI SINH VẬT
         Phân lập và định loại virus
         Bệnh phẩm
        Máu: lấy từ 2 – 4 ml máu bệnh nhân sau khi phát bệnh 1-3 ngày.
        Nước não tuỷ: lấy 2 – 4 ml nước não tuỷ bệnh nhân sau khi phát bệnh 1-3 ngày.
        Não tử thi: lấy trước 6 giờ kể từ khi chết, lấy ở các phần khác nhau của não: đại não, tiểu não, các nhân xám.
        Vectơ: bắt 20-40 con muỗi Culex tritaeniorhynchus cho vào ống nghiệm.
        Bệnh phẩm được bảo quản lạnh, riêng muỗi giữ cho sống, ghi rõ tên, tuổi, giới tính, số bệnh phẩm, địa chỉ, ngày phát bệnh, ngày vào viện, ngày lấy bệnh phẩm và những dấu hiệu lâm sàng chính rồi gửi ngay tới phòng xét nghiệm.
        Các kỹ thuật phân lập
        Người ta thường dùng 2 kỹ thuật để phân lập virus viêm não Nhật Bản:
– Kỹ thuật phân lập trên chuột nhắt trắng 1-3 ngày tuổi.
– Kỹ thuật phân lập trên tế bào muỗi C6/36.
        Xác định virus
        Thông thường người ta xác định virus viêm não Nhật Bản bằng 3 kỹ thuật:
– Kỹ thuật ngưng kết hồng cầu.
– Kỷ thuật miễn dịch huỳnh quang trực tiếp.
– Kỹ thuật ELISA.
Chẩn đoán huyết thanh: áp dụng như virus Dengue.
           NGUYÊN TẮC PHÒNG VÀ ĐIỂU TRỊ
           Phòng bệnh chung: áp dụng như ở virus Dengue.
           Phòng bệnh đặc hiệu
           Hiện nay người ta dùng vacxin tiêm phòng cho trẻ em dưới 10 tuổi để phòng bệnh, nhất là vùng có dịch lưu hành. Khi xảy ra dịch, cần tiêm nhắc lại cho trẻ em trong lứa tuổi cảm thụ (dưới 15 tuổi).
          Điều trị
          Hiện nay chưa có thước điều trị đặc hiệu. Trong thời kỳ khỏi phát và toàn phát, phải tập trung giải quyết các vấn đề sau:
– Chống phù nề não.
– Chống co giật.
– Bù dịch, dinh dưỡng tốt.
– Chống bội nhiễm, nhất là đường hô hấp.
– Hạn chế di chứng: thời kỳ lui bệnh cần xoa bóp nhiều, vật lý liệu pháp, hoặc châm cứu đồng thời luyện tập lại chức năng nói, viết….

Đọc thêm tại : http://blogvisinhvat.blogspot.com/2015/05/chan-oan-huyet-thanh.html


Từ khòa tìm kiếm nhiều: vi sinh vật học, bệnh viêm não nhật bản

Chẩn đoán huyết thanh

        Chẩn đoán huyết thanh
        Bệnh phẩm
       Người ta lấy máu bệnh nhân ngay từ khi bệnh nhân mới vào viện, gọi là máu 1; sau đấy 7 ngày, lấy máu lần 2, gọi là máu 2. Để máu đông, chắt lấy phần huyết thanh; huyết thanh được bảo quản ở -20°c cho tối khi làm xét nghiệm.

Chẩn đoán huyết thanh


         Các kỹ thuật chẩn đoán
         Hiện nay người ta thường dùng các kỹ thuật sau:
– Kỹ thuật ngăn ngưng kết hồng cầu.
– Kỹ thuật kết hợp bổ thể.
– Kỹ thuật trung hoà.
– Kỹ thuật ELISA.
– Kỹ thuật huỳnh quang gián tiếp.
       Dựa vào kháng nguyên đã biết, người ta tìm hiệu giá kháng thể trong huyết thánh bệnh nhân. Trừ kỹ thuật Mac-ELISA tìm kháng thể IgM không cần làm 2 lần, các kỹ thuật còn lại đều phải làm 2 lần trong cùng điều kiện. Chỉ khi nào hiệu giá kháng thể của máu 2 lớn hơn hiệu giá kháng thể của máu lần 1 bốn lần trở lên, mới được coi là mắc bệnh.
          NGUYÊN TẮC PHÒNG VÀ ĐIỀU TRỊ
          Phòng bệnh không đặc hiệu
       Tiêu diệt côn trùng tiết túc: là diệt môi giới trung gian truyền bệnh bằng mọi hình thức như:
– Khơi thông công rãnh, phát quang bụi rậm để muỗi không còn nơi trú ẩn và đẻ trứng.
– Phun thước diệt muỗi theo định kỳ.
         Tránh và hạn chế muỗi đốt
Khi ngủ phải nằm màn, những nơi có nhiều muỗi có thể thấm màn bằng permethrin 0,2 g/m2.
         Phòng bệnh đặc hiệu
Vacxin phòng bệnh sốt xuất huyết Dengue hiện nay vẫn chưa có.
        Điều trị
Cần chú ý chống choáng, chông hạ nhiệt đột ngột và xuất huyết ồ ạt. Nâng cao thể trạng bệnh nhân, cho bệnh nhân ăn nhiều đạm, hoa quả và tăng lượng vitamin nhất là vitamin c.

Từ khòa tìm kiếm nhiều: vi sinh vật, triệu chứng viêm não nhật bản

Phân lập và xác định virus Dengue

       Phân lập và xác định virus
       Bệnh phẩm
– Bệnh nhân: lấy 2-4 ml máu trong giai đoạn sốt chưa quá 4 ngày kể từ cơn sốt đầu, có chất chống đông.
– Tử thi, lấy tổ chức gan, lách, hạch lympho… cần lấy ngay sau khi chết chưa quá 6 giờ, được bảo quản trong glycerin 50%.
– Vectơ: bắt 20-40 con muỗi A. aegypti.
      Bệnh phẩm được bảo quản lạnh, riêng muôi giữ cho sống, ghi rõ tến, tuổi, giới tính, số bệnh phẩm, địa chỉ, ngày phát bệnh, ngày vào viện, ngày lấy bệnh phẩm và những dấu hiệu lâm sàng chính rôi gửi ngay tới phòng xét nghiệm.
        Phân lập virus
      Hiện nay người ta thường dùng 3 kỹ thuật để phân lập virus Dengue:
– Kỹ thuật phân lập trên chuột nhắt trắng 1-3 ngày tuổi: bệnh phẩm được tiêm vào não chuột 1-3 ngày tuổi, theo dõi hàng ngày. Nếu chuột bị bệnh, chuột sẽ liệt 2 chi sau. Mổ lấy não để tiêm tiếp hai lần nữa. Sau khi gây nhiễm 1 tuần, nếu chuột không ốm cũng mổ để lấy não phát hiện virus. Dùng kỹ thuật này, người ta đã phân lập được cả 4 týp virus Dengue, nhưng kỹ thuật này đời hỏi nhiều thời gian, độ nhạy thấp, lại tốn kém, do đó ít được dùng.
– Kỹ thuật phân lập trên muỗi sống: bệnh phẩm tiêm vào ngực muỗi Toxorhynchites. Sau khi tiêm, nuôi muỗi trong lồng ở 28°c trong 14 ngày, bắt những con muỗi còn sống, giữ trong – 70°c để xác định virus. Phương pháp này có độ nhạy cao nên được dùng trong các trường hợp quan trọng như: xuất huyết nặng, hoặc những trường hợp nguy kịch có thể dẫn đến tử vong.
– Kỹ thuật phân lập trên tế bào nuôi: cho bệnh phẩm vào tế bào nuôi một lớp C6/36. Sau 7 ngày, thu hoạch tế bào để xác định virus. Phương pháp này giúp cho việc phân lập virus được nhanh hơn và ít tốn kém hơn, tuy nhiên nó không nhạy bằng phương pháp gây nhiễm trực tiếp vào muỗi.

virus Dengue


       Định loại virus
      Sau khi nuôi cấy phân lập được virus, chúng ta phải định loại virus. Hiện nay có 4 kỹ thuật thường dùng:
– Kỹ thuật kết hợp bổ thể.
– Kỹ thuật trung hoà giảm mảng hoại tử:
       Kỹ thuật này dựa trên nguyên tắc: khi virus nhiễm vào tế bào thì virus sẽ tạo ra những mảng hoại tử (plaque) trên các tế bào nuôi cấy một lớp cảm thụ. Những mảng hoại tử này bị trung hoà bởi sự có mặt của các kháng thể đặc hiệu đã biết.
– Kỹ thuật miễn dịch huỳnh quang trực tiếp.
– Kỹ thuật khuếch đại chuỗi gen (PCR).


Đọc thêm tại:

Khả năng gây bệnh của Viruts Dengue

         Dây chuyền dịch tễ
        Ổ chứa virus Dengue là người và khỉ nhiễm virus. Virus truyền sang người lành qua muỗi đốt. Muỗi truyền bệnh chủ yếu là Aedes aegypti có trong nhà, Aedes albopictus có trong rừng.

         Sau khi hút máu nhiễm virus từ 8 đến 11 ngày hoặc có thể kéo dài hơn, tuỳ theo số lượng virus mà muỗi hút được và tuỳ theo nhiệt độ môi trường, muôi có khả năng gây nhiễm. 
        Chu trình nhiễm virus.
Muỗi Aedes 1: Aedes albopictus; Muỗi Aedes 2: Aedes aegypti
Muỗi Aedes aegypti có nhiều ở châu Á , châu Phi, châu Mỹ và châu ức. ở Việt Nam, muỗi Aedes phân bố rộng rãi từ Bắc tối Nam, phát triển quanh năm, nhiều nhất vào mùa mưa. Do đó, bệnh sốt xuất huyết Dengue là bệnh lưu hành rộng rãi trên toàn thế giới, đặc biệt ở một số vùng như tây Thái Bình Dương, New Guinea, Indonesia, Ấn Độ, vùng Caribe và các nước dọc bờ biển miền Nam Trung Quốc, trong đó có Việt Nam.

Khả năng gây bệnh của Viruts Dengue


           Khả năng gây bệnh cho động vật
        Virus Dengue nhân lên rất tốt ở chuột nhắt trắng mới đẻ (1-3 ngày tuổi) khi gây nhiễm vào não và ổ bụng. Nhiễm trùng thể ẩn có thể gây được ở một số loài khỉ.
        Khả năng gây bệnh cho người
       Khi muỗi mang virus Dengue đã đủ thời gian nung bệnh đốt người, virus xâm nhập qua vết đốt vào máu gây bệnh sốt xuất huyết. Tuỳ theo số lượng virus vào cơ thể mà thời gian nung bệnh khác nhau (từ 2 đến 15 ngày). Bệnh khỏi phát đột ngột, nổi cơn rét run, sốt cao 39-40°C, đau đầu, đau mình mẩy, đặc biệt đau nhiều ở vùng lưng, các khóp xương, cơ và nhãn cầu… ban dát sần hoặc thể tinh hồng nhiệt có thể xuất hiện vào ngày thứ 3 hoặc thứ 5, từ ngực thân mình rồi lan ra các chi và mặt.
Bệnh sốt xuất huyết Dengue có thể mắc ở mọi lứa tuổi, tuy tỷ lệ khác nhau theo từng vùng. Sau khi khỏi bệnh, sức khởe bệnh nhân lâu mới trở lại bình thường (vài tuần đến vài tháng). Bệnh nhân có dấu hiệu suy nhược thần kinh. Biến chứng có thể là viêm tuỷ, viêm nhiễm dây thần kinh, viêm kết mạc… Miễn dịch tồn tại 3-6 tháng.
          Cơ chế gây bệnh
        Virus Dengue xâm nhập vào tế bào bạch cầu. Hoạt lực của virus tác động vào nơron ở não và tuỷ sống, gây thoái hóa các tế bào gan, thận, tim, tạo nên các thương tổn tại nội tâm mạc, ngoại tâm mạc, dạ dày, niêm mạc ruột, màng bụng, cơ, da và hệ thông thần kinh trung ương. Các tổn thương hệ tuần hoàn thể hiện ở các mạch máu nhỏ làm giãn mao mạch, phù nề quanh mạch máu, thâm nhiễm nhiều bạch cầu đơn nhân. Các nhà khoa học cho rằng phức hợp miễn dịch (kháng nguyên-kháng thể) xuất hiệu sau khi nhiễm virus Dengue thứ phát vài ngày, gây vón tụ tiểu cầu, hoạt hóa bổ thể và các yếu tố đông máu, giải phóng yếu tố tăng tính thấm thành mạch gây nên choáng (shock) phản vệ.

Bệnh sốt xuất huyết Dengue

        Bệnh sốt xuất huyết Dengue đã được nói đến cách đây hơn 200 năm, nhưng mãi tới năm 1944 căn nguyên gây bệnh mối được phát hiện bởi Sabin, đó là virus Dengue.

xuất huyết Dengue


       Gần đây các vụ dịch xuất hiện càng nhiều không những ở các nưởc Đông Nam Á mà còn lan sang các nước khác như Polynnesia, Brazil, Venezuela và Trung Quốc, gây thiệt hại lớn cả về người lẫn kinh tế.
         ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC
         Cấu trúc
        Virus Dengue hình cầu, đối xứng hình khối, chứa một sợi ARN dương với khối lượng phân tử là 3,8.10s Dalton, vở envelop là lipoprotein, capsid được cấu thành bởi 32 capsomer. Đường kính có kích thước khoảng 35-50 nm. Tỷ lệ ARN/Protein/lipid/glucid bằng 6/66/17/9, tỷ lệ này có thể thay đổi chút ít do kỹ thuật tinh chế và loại tế bào virus xâm nhiễm.
           Nuôi cây
       Có thể nuôi virus Dengue trên các tế bào nuôi như Hela, KB, đặc biệt là tế bào muỗi C6/36. Virus Dengue dễ dàng nhân lên trong não chuột nhắt trắng 1-3 ngày tuổi, virus phát triển làm cho chuột bị liệt từ ngày thứ 3 trở đi. Người ta còn nuôi cây virus vào cơ thể muỗi Toxorhynchites hoặc Aedes aegypti.
          Khả năng đề kháng
         Virus Dengue nhậy cảm với các dung môi hoà tan lipid như ether, natri desoxycholat, formalin… dưới tác dụng của tia cực tím, virus bị phá huỷ dễ dàng. Ở 60°c, virus bị tiêu diệt sau 30 phút, ở 4°c bị tiêu diệt sau vài giờ, nhưng nếu ở trong dung dịch glycerol 50% hay đông lạnh bảo quản ở -70° c thì virus có thể sống được vài tháng tới vài năm.
         Tính chất kháng nguyên
       Virus Dengue có kháng nguyên kết hợp bổ thể, trung hoà và ngăn ngưng kết hồng cầu. Dựa vào sự khác biệt giữa các điểm quyết định kháng nguyên, người ta chia virus Dengue ra làm 4 týp khác nhau, được ký hiệu là: Dl, D2, D3 và D4.
         Mặc dù 4 týp Dengue có tính chất kháng nguyên khác nhau nhưng chúng có một số quyết định khống nguyên chung, nhất là các kháng nguyên ngăn ngưng kết hồng cầu, nên chúng có hiện tượng ngưng kết chéo giữa các týp. Trong phản ứng ngưng kết hồng cầu, pH 6,4 là thích hợp nhất cho virus ngưng kết với hồng cầu ngỗng hoặc gà.

Từ khòa tìm kiếm nhiều: vi sinh vật học, bệnh viêm não nhật bản

ARBOVIRUS

ĐỊNH NGHĨA
Các Arbovirus là những virus có thể nhân lên được trong các tổ chức của các động vật có xương sống (người, động vật có vú, chim) cũng như một số động vật không có xương sống (ve, muỗi, dĩn…). Các virus này muốn truyền bệnh từ động vật có xương sống này tới động vật có xương sống khác phải thông qua môi giới trung gian là côn trùng tiết túc. Các Arbovirus đều nhân lên được trong các tổ chức của côn trùng tiết túc nhưng không gây bệnh cho côn trùng tiết túc đó.
Do vậy, những virus chuyên gây bệnh cho côn trùng tiết túc và những virus chỉ được chuyển vận bởi côn trùng tiết túc (Poliovirus chuyển vận bởi ruồi nhà, hay gây nhiễm một cách cơ học do miệng của côn trùng bị dính virus), đều không phải là Arbovirus.
Cũng có những trường hợp đặc biệt: các Arbovirus có thể truyền sang người mà không cần qua côn trùng tiết túc (như viêm não châu Âu), người bị nhiễm do ăn phải sữa tươi của dê cừu đã bị nhiễm virus.

ARBOVIRUS


Dây chuyền dịch tễ học
Các Arbovirus lưu hành rộng rãi trên khắp thể giới. Sự tuần hoàn của các virus trong tự nhiên được thực hiện qua côn trùng tiết túc (CTTT) hút máu và động vật có xương sống hoang dại: động vật có xương sống (vật chủ) -» Vật trung gian -» Động vật có xương sống (ĐVCXS). Từ đó truyền sang người một cách ngẫu nhiên cũng thông qua côn trùng tiết túc (muỗi, ve..)- Dây chuyển dịch tễ học như sau
Ở vùng nhiệt đói, các côn trùng tiết túc phát triển rất thuận lợi, gây ra các vụ dịch lớn. Ở vùng ôn đới, các mùa phân biệt rõ ràng, bệnh xảy ra theo mùa, tản phát hoặc dịch nhỏ. Những virus mang truyền bởi ve, ví dụ viêm não do ve, có chu kỳ phức tạp hơn. Người ta đã xác nhận được ve truyền virus không những cho động vật có xương sống qua nốt đốt mà còn cho cả đời sau của nó qua trứng. Môi giới côn trùng tiết túc muốn truyền bệnh được phải qua các bưóc:
- Phải có lượng virus cần thiết để xâm nhiễm được ở côn trùng tiết túc.
- Virus nhân lên và tối tuyến nước bọt của côn trùng tiết túc.
- Côn trùng tiết túc đốt động vật và truyền cho động vật đó
PHÂN LOẠI
Việc xếp loại Arbovirus đã được thực hiện dựa trên cơ sở huyết thanh học nhờ công trình nghiên cứu của Jordi Casals (1963). Theo tính chất kháng nguyên mà không chú ý tới khả năng gây bệnh, nguồn gốc địa lý hay bản chất của véctơ, chúng được chia thành hơn 21 nhóm, trong đó quan trọng nhất là các nhóm:
- Nhóm A (Alfavirus)
- Nhóm B (Flavivirus)
- Nhóm c
- Nhóm Bunyamwera
- Nhóm California
Ớ Việt Nam chủ yếu lưu hành nhóm B, trong đó hay gặp nhất là virus Dengue và virus viêm não Nhật Bản.

Từ khòa tìm kiếm nhiều: vi sinh vật, triệu chứng viêm não nhật bản